Hà Nội vào thu, khí trời se lạnh, những chiếc khăn len choàng cổ cao dưới hàng cây đang vặn mình trút lá, những mảng tường rêu và hơi thở phảng phất của ngàn năm Thăng Long ẩn chất hơi may, khói thuốc và hương cốm, hương chè xanh. Một Hà Nội xưa đâu đó huyền nhiệm mặt hồ và một Hà Nội hiện tại với ba mươi sáu phố phường nhuộm màu Trung Quốc, nhìn đâu cũng thấy bóng Trung Quốc.
Bản photo Bắc Kinh tại Hà Nội
Hàng hóa Trung Quốc đã tràn lan khắp phố phường Hà Nội, đặc biệt, nơi phố cổ ba mươi sáu phố phường, từ Phố Hàng Ngang cho đến phố Hàng Buồm, phố Thuốc Bắc, phố Hàng Thiếc, phố Hàng Cỏ… Tất cả đều bán các loại hàng hóa Trung Quốc, từ chiếc nhẫn trang sức giả kim cho đến quần áo trẻ em, giày dép, đồ chơi trẻ em và thuốc Bắc của người lớn, tất cả đều ngập hàng Trung Quốc.
Một người dân Hà Nội bức xúc nói: “Sản phẩm Trung Quốc tràn lan luôn. Mẫu mã phong phú, mặt hàng đa dạng, Những mặt hàng này ở Việt Nam hay Thái Lan giá rất cao, mua không được, đồ Trung Quốc thì nó rẻ, tiện dụng nên được người dân sài rất nhiều. Thậm chí trên phố cổ thứ gì đa phần cũng toàn đồ Trung Quốc không à. Có cả những nơi mặc dù là shop, trên phố cổ họ bán hàng Trung Quốc nhưng giá thành và chất lượng cao hơn một chút so với hàng chợ, nhưng đó cũng là hàng Trung Quốc đổ bộ sang nhưng mẫu mã chất lượng đẹp hơn, giá thành cao hơn một chút thì được bày bán ở khu đó.
Mà dân mình đang bị phụ thuộc vào hàng Trung Quốc quá nhiều, và đang trở thành nô lệ cho những mặt hàng của nó. Tại vì việc nó tràn lan hàng hóa vào trong mình vô hình trung mình không còn cách nào khác, phải sử dụng hàng của nó. Hàng nó tràn lan quá rồi, thị trường hết 80- 90% là hàng Trung Quốc.”
Sản phẩm Trung Quốc tràn lan luôn. Mẫu mã phong phú, mặt hàng đa dạng, những mặt hàng này ở Việt Nam hay Thái Lan giá rất cao, mua không được, đồ Trung Quốc thì nó rẻ, tiện dụng nên được người dân sài rất nhiều
Một người dân Hà Nội
Ông Khương, chủ một gian hàng ở phố Hàng Ngang, chia sẻ với chúng tôi rằng Hà Nội bây giờ, trong mắt ông, là một Bắc Kinh thứ hai, sở dĩ nói Hà Nội là một bản photo Bắc Kinh là vì Hà Nội cũng có thể chế chính trị na ná Bắc Kinh, cũng là trung ương Cộng sản và một đảng duy nhất lãnh đạo đất nước. Thứ đến, dường như mọi kiến trúc xây dựng sau này đều mô phỏng kiến trúc Bắc Kinh, từ khu vực trung tâm quận Ba Đình cho đến các cơ quan hành chính sự nghiệp của thủ đô đều có dấu hiệu sao chép Bắc Kinh. Và, hàng hóa ở Hà Nội hầu như rất hiếm những mặt hàng có xuất xứ Việt Nam, có thể nói rằng có đến 95% hàng hóa có gốc gác Trung Quốc.
Ông Khương nói thêm là ông vẫn biết Trung Quốc chẳng tốt đẹp gì với Việt Nam, thậm chí, họ có thể xâm lăng bất kì giờ nào nếu như có cơ hội. Và bán hàng Trung Quốc là tiếp tay cho tội ác. Nhưng nếu bây giờ, thử đặt ngược vấn đề, hàng triệu người mua bán hàng Trung Quốc ở ba mươi sáu phố phường, giá thành mềm mại, linh động, dễ mua, dễ bán. Nếu như chỉ riêng ông và gia đình bài trừ hàng Trung Quốc, mua bán hàng Việt Nam, thì sẽ ra sao khi với giá thành hiện tại mọi loại hàng hóa cùng loại thì hàng Trung Quốc rẻ gấp ba, gấp bốn lần so với hàng Việt Nam, mẫu mã hàng Trung Quốc lúc nào cũng bắt mắt hơn, đẹp hơn. Đó là bi kịch của nhà buôn trước cơ chế quản lý nhà nước hết sức lỏng lẻo.
Bà Vân, vợ ông Khương cho chúng tôi biết thêm là hiện tại, ông bà không còn lựa chọn nào khác ngoài chuyện nhận hàng Trung Quốc về bán kiếm lãi. Vì cả khu phố đã đầy rẫy hàng Trung Quốc vừa rẻ vừa đẹp, ví dụ như một chiếc đèn pin Trung Quốc dùng pin sạc, mẫu mã gọn gàng, đẹp, nhẹ, bà mua vào với giá rất thấp và bán ra với giá 50 ngàn đồng, trong khi đó, chiếc đèn pin cùng loại của Việt Nam, cùng chức năng, thậm chí thời gian lưu năng lượng thấp hơn, trọng lượng gấp đôi, gấp ba, cầm rất nặng nề, kềnh càng nhưng giá thành lại đắt gần gấp 5 lần, giá bán trên thị trường là 230 ngàn đồng. Thử hỏi, với giá thành như thế, người nhà buôn nào dám mua về để bán nữa! Và không hiểu nhà nước quản lý thị trường kiểu gì mà hàng Trung Quốc luôn có cơ hội chiếm lĩnh thị trường Việt Nam!
Hà Nội bây giờ, trong mắt ông, là một Bắc Kinh thứ hai, sở dĩ nói Hà Nội là một bản photo Bắc Kinh là vì Hà Nội cũng có thể chế chính trị na ná Bắc Kinh, cũng là trung ương Cộng sản và một đảng duy nhất lãnh đạo đất nước
Ông Khương
Người dân ngộp thở vì hàng Trung Quốc
Ông Hà, sống ở quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, than thở với chúng tôi là ông quá sợ Hà Nội bây giờ, không biết Hà Nội xưa đi đâu mất rồi mà bây giờ hiện ra trước ông toàn là Hà Nội của phở mắng, cháo chửi, bánh Trung Thu tụt quần mắng nhiếc… Một Hà Nội đầy rẫy hàng Trung Quốc, đi đâu cũng thấy bóng Trung Quốc ám mắt. Từ ngoài phố về đến đầu ngõ, từ ngoài khách sạn vào đến giường ngủ đều thấy Trung Quốc xuất hiện. Ông Hà buồn rầu nói rằng không chừng, một ngày nào đó, những cây sấu ở Hà Nội sẽ mọc ra toàn trái made in China, và những người vốn yêu Hà Nội xưa ăn vào sẽ chết hết. Đó là nỗi lo không lãng mạn một chút nào.
Ông Hà nói: “Hàng Trung Quốc thì lâu nay càng ngày càng nhiều hơn. Kể cả chợ đêm , hàng cổ để làm du lịch đó, cũng toàn Trung Quốc cả.
Hiện nay nếu nói là Bắc Kinh thu nhỏ cũng không ổn. Vì toàn hàng cấp thấp của nó, còn hàng Tàu cao cấp nó cũng ở hàng riêng.Tức là hàng Tàu cao cấp nó ở hàng riêng của nó, chỉ có hàng Tàu cấp thấp, rẻ tiền thì nó tràn lan. Như vậy thì không thể nói nó là Bắc Kinh photo được, mà nó chỉ là một cái gì đó của Trung Quốc, nói nó là một cái tỉnh nhỏ của Bắc Kinh thì đúng hơn. Trong một cái sạp hàng thì có nhiều hàng từ Quảng Tây, Quảng Đông…nhiều nguồn từ phía Bắc, từ Trung Quốc thì đúng hơn. Hàng bên mình chủ yếu là hàng tiêu dùng hay hỏng, rẻ tiền, đi vào bằng tiểu ngạch vì tiểu ngạch mới rẻ. Bảo nó là Bắc Kinh không đúng vì Bắc Kinh nó đồ sộ hơn, vùng dưới này chỉ là một tỉnh lẻ, một cái rốn để nó đem rác vào nó thải vào thôi.”
Nếu như hệ thống Made In Việt Nam bán với giá như hiện tại, cách gì người bình dân, người lao động nghèo cũng không dám bén mảng đến cửa hàng, rồi cũng chỉ quanh quẩn quanh các cửa hàng ở ba mươi sáu phố phường để mua hàng Trung Quốc về xài
Chị Huyền Thư
Bà Nguyên, sống ở phố Yết Kiêu, một con phố có nhiều cơ quan cấp bộ tọa lạc, chia sẻ với chúng tôi rằng bà rất buồn mỗi khi đi thăm, đi mua sắm ở Hà Nội ba mươi sáu phố phường. Vì với người dân Hà Nội, những phố Hàng Buồm, Hàng Thiếc, Hàng Ngang, Hàng Bông, Hàng Gai, Hàng Thùng… ám ngộn ký ức một thời với phức hợp mùi rất ư Hà Thành, rất ư Tràng An thanh lịch, bây giờ đã trôi tuột vào quá khứ, thay vào đó là thứ mùi hỗn tạp có xuất xứ Trung Quốc làm cho một người nội trợ như bà thấy lo lắng và dần dà thấy mình liều lĩnh, thây kệ, sắm bừa, mua bừa cho qua ngày đoạn tháng vì không còn lựa chọn nào khác.
Chị Huyền Thư, một người mẹ trẻ cũng đang sống ở phố Yết Kiêu, phàn nàn với chúng tôi là bây giờ, muốn mua sắm quần áo cho trẻ con, chỉ còn một cách duy nhất là tìm đến các cửa hàng Made in Việt Nam. Nghiệt nỗi là hệ thống cửa hàng này tuy rất phong phú về mẫu mã nhưng lại có giá thành quá cao, không hợp với giới bình dân, mà phần đông người bình dân mới cần đến chỗ bán hàng giá vừa phải để mua sắm cho con cái. Nếu như hệ thống Made In Việt Nam bán với giá như hiện tại, cách gì người bình dân, người lao động nghèo cũng không dám bén mảng đến cửa hàng, rồi cũng chỉ quanh quẩn quanh các cửa hàng ở ba mươi sáu phố phường để mua hàng Trung Quốc về xài. Chính vì thế, trong mắt người Hà Nội nghèo như chị bây giờ, Hà Nội đã là một Bắc Kinh thứ hai.
Với đà mọi thứ đang dần dần biến dạng, mang dáng dấp Bắc Kinh và đẩy tâm thức tiêu dùng người dân đến chỗ thân thiện, xem hàng Trung Quốc như một thứ không thể thiếu trong gia đình, thì sớm muộn gì, Hà Nội cũng sẽ là một Bắc Kinh khác.
Hà Nội vào thu, khí trời se lạnh, những chiếc khăn len choàng cổ cao dưới hàng cây đang vặn mình trút lá, những mảng tường rêu và hơi thở phảng phất của ngàn năm Thăng Long ẩn chất hơi may, khói thuốc và hương cốm, hương chè xanh. Một Hà Nội xưa đâu đó huyền nhiệm mặt hồ và một Hà Nội hiện tại với ba mươi sáu phố phường nhuộm màu Trung Quốc, nhìn đâu cũng thấy bóng Trung Quốc. Bản photo Bắc Kinh tại Hà Nội Hàng hóa Trung Quốc đã tràn lan khắp phố phường Hà Nội, đặc biệt, nơi phố cổ ba mươi sáu phố phường, từ Phố Hàng Ngang cho đến phố Hàng Buồm, phố Thuốc Bắc, phố Hàng Thiếc, phố Hàng Cỏ… Tất cả đều bán các loại hàng hóa Trung Quốc, từ chiếc nhẫn trang sức giả kim cho đến quần áo trẻ em, giày dép, đồ chơi trẻ em và thuốc Bắc của người lớn, tất cả đều ngập hàng Trung Quốc. Một người dân Hà Nội bức xúc nói: “Sản phẩm Trung Quốc tràn lan luôn. Mẫu mã phong phú, mặt hàng đa dạng, Những mặt hàng này ở Việt Nam hay Thái Lan giá rất cao, mua không được, đồ Trung Quốc thì nó rẻ, tiện dụng nên được người dân sài rất nhiều. Thậm chí trên phố cổ thứ gì đa phần cũng toàn đồ Trung Quốc không à. Có cả những nơi mặc dù là shop, trên phố cổ họ bán hàng Trung Quốc nhưng giá thành và chất lượng cao hơn một chút so với hàng chợ, nhưng đó cũng là hàng Trung Quốc đổ bộ sang nhưng mẫu mã chất lượng đẹp hơn, giá thành cao hơn một chút thì được bày bán ở khu đó. Mà dân mình đang bị phụ thuộc vào hàng Trung Quốc quá nhiều, và đang trở thành nô lệ cho những mặt hàng của nó. Tại vì việc nó tràn lan hàng hóa vào trong mình vô hình trung mình không còn cách nào khác, phải sử dụng hàng của nó. Hàng nó tràn lan quá rồi, thị trường hết 80- 90% là hàng Trung Quốc.” Sản phẩm Trung Quốc tràn lan luôn. Mẫu mã phong phú, mặt hàng đa dạng, những mặt hàng này ở Việt Nam hay Thái Lan giá rất cao, mua không được, đồ Trung Quốc thì nó rẻ, tiện dụng nên được người dân sài rất nhiều Một người dân Hà Nội Ông Khương, chủ một gian hàng ở phố Hàng Ngang, chia sẻ với chúng tôi rằng Hà Nội bây giờ, trong mắt ông, là một Bắc Kinh thứ hai, sở dĩ nói Hà Nội là một bản photo Bắc Kinh là vì Hà Nội cũng có thể chế chính trị na ná Bắc Kinh, cũng là trung ương Cộng sản và một đảng duy nhất lãnh đạo đất nước. Thứ đến, dường như mọi kiến trúc xây dựng sau này đều mô phỏng kiến trúc Bắc Kinh, từ khu vực trung tâm quận Ba Đình cho đến các cơ quan hành chính sự nghiệp của thủ đô đều có dấu hiệu sao chép Bắc Kinh. Và, hàng hóa ở Hà Nội hầu như rất hiếm những mặt hàng có xuất xứ Việt Nam, có thể nói rằng có đến 95% hàng hóa có gốc gác Trung Quốc. Ông Khương nói thêm là ông vẫn biết Trung Quốc chẳng tốt đẹp gì với Việt Nam, thậm chí, họ có thể xâm lăng bất kì giờ nào nếu như có cơ hội. Và bán hàng Trung Quốc là tiếp tay cho tội ác. Nhưng nếu bây giờ, thử đặt ngược vấn đề, hàng triệu người mua bán hàng Trung Quốc ở ba mươi sáu phố phường, giá thành mềm mại, linh động, dễ mua, dễ bán. Nếu như chỉ riêng ông và gia đình bài trừ hàng Trung Quốc, mua bán hàng Việt Nam, thì sẽ ra sao khi với giá thành hiện tại mọi loại hàng hóa cùng loại thì hàng Trung Quốc rẻ gấp ba, gấp bốn lần so với hàng Việt Nam, mẫu mã hàng Trung Quốc lúc nào cũng bắt mắt hơn, đẹp hơn. Đó là bi kịch của nhà buôn trước cơ chế quản lý nhà nước hết sức lỏng lẻo. Bà Vân, vợ ông Khương cho chúng tôi biết thêm là hiện tại, ông bà không còn lựa chọn nào khác ngoài chuyện nhận hàng Trung Quốc về bán kiếm lãi. Vì cả khu phố đã đầy rẫy hàng Trung Quốc vừa rẻ vừa đẹp, ví dụ như một chiếc đèn pin Trung Quốc dùng pin sạc, mẫu mã gọn gàng, đẹp, nhẹ, bà mua vào với giá rất thấp và bán ra với giá 50 ngàn đồng, trong khi đó, chiếc đèn pin cùng loại của Việt Nam, cùng chức năng, thậm chí thời gian lưu năng lượng thấp hơn, trọng lượng gấp đôi, gấp ba, cầm rất nặng nề, kềnh càng nhưng giá thành lại đắt gần gấp 5 lần, giá bán trên thị trường là 230 ngàn đồng. Thử hỏi, với giá thành như thế, người nhà buôn nào dám mua về để bán nữa! Và không hiểu nhà nước quản lý thị trường kiểu gì mà hàng Trung Quốc luôn có cơ hội chiếm lĩnh thị trường Việt Nam! Hà Nội bây giờ, trong mắt ông, là một Bắc Kinh thứ hai, sở dĩ nói Hà Nội là một bản photo Bắc Kinh là vì Hà Nội cũng có thể chế chính trị na ná Bắc Kinh, cũng là trung ương Cộng sản và một đảng duy nhất lãnh đạo đất nước Ông Khương Người dân ngộp thở vì hàng Trung Quốc Ông Hà, sống ở quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, than thở với chúng tôi là ông quá sợ Hà Nội bây giờ, không biết Hà Nội xưa đi đâu mất rồi mà bây giờ hiện ra trước ông toàn là Hà Nội của phở mắng, cháo chửi, bánh Trung Thu tụt quần mắng nhiếc… Một Hà Nội đầy rẫy hàng Trung Quốc, đi đâu cũng thấy bóng Trung Quốc ám mắt. Từ ngoài phố về đến đầu ngõ, từ ngoài khách sạn vào đến giường ngủ đều thấy Trung Quốc xuất hiện. Ông Hà buồn rầu nói rằng không chừng, một ngày nào đó, những cây sấu ở Hà Nội sẽ mọc ra toàn trái made in China, và những người vốn yêu Hà Nội xưa ăn vào sẽ chết hết. Đó là nỗi lo không lãng mạn một chút nào. Ông Hà nói: “Hàng Trung Quốc thì lâu nay càng ngày càng nhiều hơn. Kể cả chợ đêm , hàng cổ để làm du lịch đó, cũng toàn Trung Quốc cả. Hiện nay nếu nói là Bắc Kinh thu nhỏ cũng không ổn. Vì toàn hàng cấp thấp của nó, còn hàng Tàu cao cấp nó cũng ở hàng riêng.Tức là hàng Tàu cao cấp nó ở hàng riêng của nó, chỉ có hàng Tàu cấp thấp, rẻ tiền thì nó tràn lan. Như vậy thì không thể nói nó là Bắc Kinh photo được, mà nó chỉ là một cái gì đó của Trung Quốc, nói nó là một cái tỉnh nhỏ của Bắc Kinh thì đúng hơn. Trong một cái sạp hàng thì có nhiều hàng từ Quảng Tây, Quảng Đông…nhiều nguồn từ phía Bắc, từ Trung Quốc thì đúng hơn. Hàng bên mình chủ yếu là hàng tiêu dùng hay hỏng, rẻ tiền, đi vào bằng tiểu ngạch vì tiểu ngạch mới rẻ. Bảo nó là Bắc Kinh không đúng vì Bắc Kinh nó đồ sộ hơn, vùng dưới này chỉ là một tỉnh lẻ, một cái rốn để nó đem rác vào nó thải vào thôi.” Nếu như hệ thống Made In Việt Nam bán với giá như hiện tại, cách gì người bình dân, người lao động nghèo cũng không dám bén mảng đến cửa hàng, rồi cũng chỉ quanh quẩn quanh các cửa hàng ở ba mươi sáu phố phường để mua hàng Trung Quốc về xài Chị Huyền Thư Bà Nguyên, sống ở phố Yết Kiêu, một con phố có nhiều cơ quan cấp bộ tọa lạc, chia sẻ với chúng tôi rằng bà rất buồn mỗi khi đi thăm, đi mua sắm ở Hà Nội ba mươi sáu phố phường. Vì với người dân Hà Nội, những phố Hàng Buồm, Hàng Thiếc, Hàng Ngang, Hàng Bông, Hàng Gai, Hàng Thùng… ám ngộn ký ức một thời với phức hợp mùi rất ư Hà Thành, rất ư Tràng An thanh lịch, bây giờ đã trôi tuột vào quá khứ, thay vào đó là thứ mùi hỗn tạp có xuất xứ Trung Quốc làm cho một người nội trợ như bà thấy lo lắng và dần dà thấy mình liều lĩnh, thây kệ, sắm bừa, mua bừa cho qua ngày đoạn tháng vì không còn lựa chọn nào khác. Chị Huyền Thư, một người mẹ trẻ cũng đang sống ở phố Yết Kiêu, phàn nàn với chúng tôi là bây giờ, muốn mua sắm quần áo cho trẻ con, chỉ còn một cách duy nhất là tìm đến các cửa hàng Made in Việt Nam. Nghiệt nỗi là hệ thống cửa hàng này tuy rất phong phú về mẫu mã nhưng lại có giá thành quá cao, không hợp với giới bình dân, mà phần đông người bình dân mới cần đến chỗ bán hàng giá vừa phải để mua sắm cho con cái. Nếu như hệ thống Made In Việt Nam bán với giá như hiện tại, cách gì người bình dân, người lao động nghèo cũng không dám bén mảng đến cửa hàng, rồi cũng chỉ quanh quẩn quanh các cửa hàng ở ba mươi sáu phố phường để mua hàng Trung Quốc về xài. Chính vì thế, trong mắt người Hà Nội nghèo như chị bây giờ, Hà Nội đã là một Bắc Kinh thứ hai. Với đà mọi thứ đang dần dần biến dạng, mang dáng dấp Bắc Kinh và đẩy tâm thức tiêu dùng người dân đến chỗ thân thiện, xem hàng Trung Quốc như một thứ không thể thiếu trong gia đình, thì sớm muộn gì, Hà Nội cũng sẽ là một Bắc Kinh khác. Nhóm phóng viên tường trình từ Việt Nam.
Nhiều năm trở lại đây, nghệ thuật thư pháp chữ Việt trở nên quen thuộc đối với giới thưởng ngoạn, nhiều nhà thư pháp Việt định danh với những sở trường, tinh hoa khác nhau khiến cho con chữ cũng thêm phần bay bổng. Thế nhưng, trong bối cảnh tranh tối tranh sáng của thị trường, nhiều trò viết nhại thư pháp trên các hủ chao, hủ tương, hủ mắm cùng các kiểu bảng quảng cáo quán nhậu đã làm cho thư pháp chữ Việt trở nên nhàm chán, một phần khác, với tâm lý chữ Việt là chữ tượng âm, chỉ có chữ Hán mới là chữ tượng hình, mới hợp gu với thư pháp đã làm cho thư pháp chữ Việt bị mất lửa, phai nhạt rất nhiều.
Nghệ thuật và yếu tố dân tộc
Nhà thư pháp Hồ Công Khanh, sống ở Đà Nẵng, chia sẻ với chúng tôi rằng hiện tại, anh cảm thấy bị tổn thương trong một chừng mực nào đó bởi cuộc chơi của những người có tâm huyết như anh vô hình trung bị đánh đồng cùng một khái niệm “thư pháp Việt” với những con chữ ngoằn ngoèo trên hủ chao, hủ tương, hủ mắm cà… Với anh, nghệ thuật trước nhất phải là một cuộc dấn thân mà ở đó, người nghệ sĩ phải dồn tâm lực để tìm tòi, nghiên cứu, hy sinh và trả giá cho nó. Mỗi con chữ viết ra không phải là một sự trình bày đơn thuần mà là hành động ký thác tâm hồn, ghi chép khoảnh khắc thăng hoa của nội tâm, của văn hóa dân tộc lưu cửu nơi huyết quản.
Và với anh Khanh, viết thư pháp chữ Việt, ngoài ý nghĩa tìm tòi, khám phá về nghệ thuật chữ nghĩa, khai phá những ý niệm nung náu, ẩn mình nơi ký tự, cuộc chơi còn mang tính tự trọng dân tộc, trân quí con chữ của quốc gia cũng như tính chủ quyền về văn hóa bên trong nó. Anh Khanh nói: “Nếu như nói để bảo tồn văn hóa chữ Việt thì ngoài văn học, thơ ca ra rồi thì nghệ thuật con chữ là một cái nghệ thuật làm con người dễ cảm nhận hơn về chữ Việt. Thường thì trong thư pháp, người ta thường chọn câu từ thứ nhất mang ý nghĩa giáo dục, thứ hai là trong sáng, thứ ba nữa là nó mang những ý nghĩa về nghệ thuật. Thành ra, anh thấy đó là một trong những con đường mà anh cho là nó dễ thấy nhất trong việc bảo tồn văn hóa chữ Việt. Thật ra thì đối với thời buổi bây giờ, không riêng gì nghệ thuật thư pháp chữ Việt hay bất kỳ nghệ thuật nào mà hầu như xã hội bây giờ mang một xu hướng ăn xổi ở thì… nó không có nó không có sáng tạo. Tại vì ở một xã hội nó không gợi mở được sáng tạo thì cái còn lại chỉ là cái bắt chước. Tới nữa, một xã hội mà đạo đức nó đi xuống thì người ta không bao giờ làm cái gì chính danh cả, người ta chỉ lợi dụng cơ hội đó để người ta kiếm tiền người ta sống thôi!”
Đồng cảm với nhà thư pháp Hồ Công Khanh, nhà thư pháp trẻ Hà Trọng, người có nhiều cuộc triển lãm cá nhân mang tính bất vụ lợi nhằm kêu gọi, cổ động bảo vệ môi trường, kêu gọi lòng hảo tâm hướng về những bé thơ có hoàn cảnh không may mắn bằng cách thương thuyết và dẫn mạnh thường quân trực tiếp đến gặp gỡ, giúp đỡ những em bé này. Hà Trọng nói rằng hiện nay, không riêng gì thư pháp, dường như mọi môn nghệ thuật đều có xu hướng bị thị trường hóa, ngay cả hội họa cũng thế. Nhưng điều đó không có nghĩa là tất cả những ai từng làm nghệ thuật đều bị chao đảo theo thị trường. Vẫn có rất nhiều nghệ sĩ nuôi giữ lòng tự trọng và tình yêu nghệ thuật, họ sáng tạo, mày mò nghiên cứu để tìm ra cái mới chứ không phải ăn theo, làm lấy được để kiếm sống.
Hiện tại, có quá nhiều người dường như không bỏ ra chút công phu nào cho nghệ thuật nhưng lại ra các khu chợ, các khu đông người ngồi viết thư pháp, gọi là cho chữ. Và ngược lại, cũng có không ít người không am hiểu về nghệ thuật đến nhờ Trọng viết thư pháp lên trái dưa hấu, trái bưởi để bán trong dịp Tết, bán cho người ta chưng bàn thờ ngày rằm. Gặp những trường hợp như thế, anh sẽ vui vẻ viết giùm cho người yêu cầu một trái làm kỉ niệm và giải thích cho họ thấy thế nào là nghệ thuật, thế nào là buôn bán nghệ thuật rồi đi đến kết luận anh là người sáng tạo nghệ thuật chứ không phải người mua bán theo nghĩa thuần túy và từ chối thật nhẹ nhàng để người yêu cầu không cảm thấy bị khó chịu.
Thị trường tràn lan người bán chữ
Cách chỗ nhà thư pháp Hồ Công Khanh và Hà Trọng sống không xa, có những nhà thư pháp khác cũng rất tâm huyết với bộ môn nghệ thuật này nhưng vì một lý do nào đó, họ gác bút đã lâu. Và khoảng trống gác bút của họ, bây giờ là những sinh viên, những người viết thư pháp phát sinh theo thời vụ mọc ra càng lúc càng nhiều. Không khí làm việc cũng khá bận bịu, nhộn nhịp.
Có người viết thư pháp lên giấy lụa, giấy bản dày và cuộn thành bức để bán, cũng có người vẽ rồng, vẽ hoa, vẽ trúc, vẽ ong bướm và nhiều thứ khác lên giấy, mo cau, mo nang làm nền, sau đó vẽ con chữ lên đó và treo bán. Vì phần lớn những người này là sinh viên có điều kiện kinh tế tương đối khó khăn, nên việc cần mẫn kiếm tiền bằng nghề viết thư pháp của họ bao giờ cũng cho một cảm giác nào đó vừa nỗ lực, vừa bi thảm, khó nói.
Một người thưởng ngoạn nghệ thuật ở Huế, tên Quảng, chia sẻ với chúng tôi rằng anh vốn là người rất yêu thích nghệ thuật, những năm đầu nghệ thuật thư pháp chữ Việt ra đời với các nhà thư pháp danh tiếng như Vũ Hối, Nguyễn Thiên Chương, Hồ Công Khanh… Anh nhận thấy ở họ, lòng yêu nghệ thuật, sự khai phá và tính tự tôn dân tộc thể hiện rõ nét qua con chữ, và mỗi con chữ mang cá tính, tâm hồn của người nghệ sĩ, rất sinh động.
Trong tình hình hiện tại, có vẻ như những nhà thư pháp có tên tuổi này không muốn hoạt động nữa, thay vào đó là hoạt động khá nhộn nhịp, chộn rộn của các thư pháp hội chợ, ở đó, ít có sự tĩnh lặng, cũng không cần dụng công nghệ thuật gì, chủ yếu là mua bán, người mua bỏ ra vài chục ngàn đồng, người bán ngồi lặp đi lặp lại những kĩ năng quen thuộc để viết ra một chữ gì đó, trao khách và lấy tiền… Mọi việc diễn ra nhanh gọn. Nhìn chung, ở đâu có hội chợ hay đám đông, chỗ đó có thể xuất hiện một chiếc nong, chiếc nia hoặc tấm vải bạt trải ra trên mặt đất cùng một người ngồi hí hoáy viết để bán kiếm tiền.
Việc kiếm tiền bằng viết thư pháp kể ra cũng khá thuận lợi, nó góp phần cải thiện đời sống của các sinh viên xa nhà, giúp nhiều người vượt qua được cái nghèo. Thế nhưng, cũng chính bởi sự dễ dãi trong lựa chọn cuộc chơi đã đẩy dần nghệ thuật thư pháp chữ Việt vào chỗ bế tắc, không còn yếu tố sáng tạo và mang thân phận của kẻ ăn theo. Đặc biệt, một số bạn sinh viên từng tham gia viết thư pháp bán kiếm tiền ở hè phố có nhận định khá mơ hồ về thư pháp chữ Việt.
Lê, sinh viên đại học văn khoa Huế, có thâm niên ba năm viết thư pháp bên bờ sông Hương, chia sẻ: “Cá nhân em thì thư pháp thì em thích chữ tượng hình của Trung Quốc hay Nhật Bản thôi. Còn chữ Quốc ngữ em không thích í, trong diện tiếp xúc, em nghĩ rứa. Mình không thể phủ nhận thằng Trung Quốc nó giỏi, nó quá giỏi, mình thì… dẫu sao cũng chỉ là chơi chơi chứ chẳng tạo ra giá trị, em nghĩ nó không tạo ra giá trị, nó không có giá trị văn hóa.”
Có thể nói, nghệ thuật thư pháp chữ Việt từng có một thời ngấp nghé chạm cánh cửa chính danh bởi những nhà thư pháp tâm huyết với bộ môn nghệ thuật này. Tuy nhiên, không bao lâu sau đó, sự bùng nổ của kiểu kiếm tiền dễ dãi bằng viết thư pháp cộng với tính vô hồn, thiếu vắng yếu tố nghệ thuật cũng như tinh thần dân tộc bị phai nhạt trong một nền giáo dục, văn hóa không có nền tảng đã đẩy môn nghệ thuật này đến chỗ tranh tối tranh sáng, phức tạp và phát triển theo chiều hướng thực dụng, đáng buồn!
Nhóm phóng viên tường trình từ Việt Nam.
Trong chương trình VHNT hôm nay Mặc Lâm xin giới thiệu tác phẩm Đèn Cù của nhà văn nhà báo Trần Đĩnh. Sách dày 600 trang sẽ được nhà xuất bản Ngưởi Việt phát hành vào hạ tuần tháng 8 này.
Tác giả Đèn Cù là nhà báo kỳ cựu của tờ Sự Thật từ những ngày đầu tiên khi báo này thành lập do Trường Chinh làm Tổng biên tập. Ông sinh năm 1930 và tham gia Việt Minh vào năm 1946 tức lúc mới 16 tuổi, Trần Đĩnh thuộc lớp đảng viên tiên phong gia nhập đảng cộng sản Việt Nam từ năm 1948. Ông là người chấp bút tiểu sử của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chấp bút những tự truyện của nhiều nhân vật như Phạm Hùng, Lê Văn Lương, Bùi Lâm, Nguyễn Đức Thuận.
Những phân tích tinh tế
Do làm việc trong một cơ quan báo chí cao nhất của Đảng ông có cơ hội gặp gỡ hầu hết các khuôn mặt của chế độ từ Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Duẩn, tới Lê Đức Thọ, Hoàng Tùng, Đỗ Mười … và những quan hệ này đã giúp ông sớm nhận ra khuôn mặt thật phía sau chiếc mặt nạ của các chóp bu cộng sản.
Sau khi vụ án “Xét lại chống đảng” diễn ra ông cũng là một nạn nhân tuy mức độ lao tù nhẹ hơn người khác nhưng đủ để ông thấy được sự đấu tranh gay gắt, sống còn giữa Mao Trạch Đông và Liên Xô cùng với nghị quyết 9 ra đời dẫn dắt cả hệ thống Đảng Cộng sản Việt Nam ngày càng rơi sâu vào vòng kềm tỏa của Trung Quốc.
Là người theo học tại Bắc Kinh 5 năm trời, ông có những phân tích tinh tế trong “Đèn Cù” từ hành động tới cách đối xử của Mao đối với Lê Duẩn, Võ Nguyễn Giáp hay ngay cả Hồ Chí Minh trong những ngày chiến tranh chống Mỹ. Những ghi chép của ông tuy không phải là những bí mật to lớn nhưng cũng giúp cho lịch sử cận đại Việt Nam có cái nhìn chuẩn xác hơn về sự lệ thuộc của Việt Nam vào hai đầu tàu Cộng sản thế giới là Liên Xô và Trung Quốc.
Cuộn dây thừng trong tay anh tuột ra văng trên mặt nước như một lằn roi sáng quắc. Và chỉ một dìm xuống rồi một nhồi thúc lên là anh lính liền mất tăm.
-Trích Đèn Cù
Những ghi chép ấy nằm trong một văn phong tưởng chừng như hờ hững nhưng thật ra chất lửa tiềm ẩn từ trang đầu tiên tới những giòng cuối cùng. Trần Đĩnh tỏ ra không dễ dãi như cách kể chuyện của nhiều người, nhất là những người danh giá. Ông là nhà báo có cách viết của một nhà văn đậm chất trữ tình qua nhịp đập của trái tim thi sĩ.
Diễn tả sự việc cô đọng, nén thông tin đến mức có thể, nhà báo Trần Đĩnh tỏ ra rành rẽ kỹ thuật thông tin của thế kỷ 21 mặc dù ông là người đã cầm bút gần 70 năm từ ngày đầu tiên trình diện báo Sự Thật.
Khi đọc những giòng văn sau đây khó ai có thể nghĩ rằng tác giả Đèn Cù là một nhà báo, ông viết:
“Cuộn dây thừng trong tay anh tuột ra văng trên mặt nước như một lằn roi sáng quắc. Và chỉ một dìm xuống rồi một nhồi thúc lên là anh lính liền mất tăm. Khi anh dội ngược trở lên lần cuối, hai mắt anh mở đã dại đờ. Cái chết chớp nhoáng nhưng những nghi thức đi kèm nó lại từ tốn rất mực. Cặp mắt dại kia như mơ màng khép lại, tóc trên trán anh thong thả tách ra từng sợi lượn lờ rồi ngoan ngoãn theo nước mơn trớn phân chia để lần lượt rẽ trái rẽ phải hai bên, quá đều, quá phân miêng, khơi ra một đường ngôi quá thẳng, quá sạch, quá trắng ở chính ngay giữa đỉnh đầu anh. Tôi khẽ nấc và cắn chặt môi. Tôi thấy lại anh ba bốn tuổi đang ngửa mặt lên cho bàn tay mẹ định hình đường ngôi đầu tiên trong đời để anh giữ lấy mãi, đường ngôi mà nay con lũ trung thành đang tỉ mẩn xếp lại cho đúng nguyên mẫu ban đầu.”
Trong Đèn Cù không hiếm những câu văn tinh tế như vậy do đó khi đọc nó người ta thấy cảm xúc thi ca được vuốt ve và những hiện tượng chính trị thanh trừng, trù dập, bợm bãi với nhau trở nên dễ chấp nhận hơn đối với người khó tính.
Nhân chứng lịch sử
Trần Đĩnh viết trước hết cho ông, sau đó mới tới người đọc ông và cuối cùng là những thước phim tài liệu có khả năng đứng vững như nhân chứng lịch sử, lịch sử của dối trá và che dấu triệt để sự thật. Để che dấu nó, đảng Cộng sản Việt Nam rập khuôn Liên Xô và Trung Quốc, cơ quan báo chí quan trọng nhất phải có tên Sự Thật.
Xuyên suốt 600 trang của Đèn Cù là hai mảng quan trọng diễn ra sau khi cộng sản cướp chính quyền. Lần thứ nhất đấu tố địa chủ, cũng là dân chúng bị ép lên miễn cưỡng trở thành địa chủ qua “Cải cách ruộng đất”. Lần thứ hai đấu tố, giam cầm những đảng viên cộng sản có khuynh hướng thân Liên Xô và chống đối cuộc chiến tranh tương tàn qua tên gọi “Vụ án xét lại chống đảng”.
Trần Đĩnh không vẽ ra toàn cảnh bức tranh theo thứ tự thời gian sự kiện như thông thường. Ông kéo từng mảng nhỏ mà ông chứng kiến, tham gia ra miêu tả lại với những chi tiết sâu lắng dẫn dắt câu chuyện như mục tử nghêu ngao trên cánh đồng hoàng hôn đầy ắp những nhân chứng lịch sử. Họ tuần tự kể lại hay qua Trần Đĩnh, minh họa lại từng chi tiết với giọng văn tỉnh táo, trầm tư và rất thông minh của một cây viết kinh nghiệm lão luyện về tự thuật.
Qua lời một người bạn thân theo chân Lê Duẩn sang Trung Quốc xin Bắc Kinh giải tỏa số hỏa tiển do Liên Xô viện trợ bị Trung Quốc chặn lại vì muốn dằn mặt Việt Nam, Trần Đĩnh nhìn thấy ở Lê Duẩn một sự ê chề, bị làm nhục vì dám sang Moskva trước khi tới Bắc Kinh.
Chính ông, vào năm 1958 khi học tại Trung Quốc đã chứng kiến tận mắt sự khinh bỉ của sinh viên Trung Quốc đối với chế độ Việt Nam qua câu chuyện rất ngắn nhưng gói ghém rất nhiều sự thật về tình đồng chí quốc tế vô sản, ông kể:
“Một hôm Chu Ân Lai, Lý Phú Xuân đến Bắc Kinh đại học nói chuyện với cả nghìn sinh viên. Bọn tôi nghe. Các mẩu câu hỏi, thắc mắc của sinh viên tới tấp truyền tay nhau đưa lên trên bàn Chu Ân Lai. Đến một mẩu, ông đọc to: Trung Quốc nghèo, dân Trung Quốc đói, sao cứ phải giúp Việt Nam?
Tôi thật tình xấu hổ. Sinh viên Trung quốc đòi chấm dứt viện trợ cho Việt Nam trước đông đủ các nước, nhất là trước sinh viên Hồi Giáo sáng sáng bốn năm giờ ra hành lang tụng kinh giập đầu thình thình xuống đất không ai ngủ nổi. Mà sao Chu Ân Lai không ỉm đi? Tôi hơi ức.
Chu Ân Lai giải đáp ngắn gọn, thẳng thắn. Viện trợ cho Việt Nam là nghĩa vụ quốc tế nhưng có lợi cho Trung Quốc: nên đẩy chiến tranh và đế quốc ra xa Trung Quốc hay để cho chúng nó áp sát bên cạnh?”
Trần Đĩnh chứng kiến việc Mao Trạch Đông giả vờ “Chỉnh đảng” để tiêu diệt thành phần chống đối với y. Báo chí được lệnh kêu gọi phải đốt rụi những gì mà đảng sai lầm, phải “thiêu cháy đảng” để đảng tái sinh…Thế là vô số người đứng lên làm theo sự kêu gọi này mà có hay đâu đó là mồi nhử những người có tư tưởng đòi thay đổi đảng. Mao Trạch Đông dưới mắt Trần Đĩnh là một gã đồ tể máu lạnh. Cử chỉ nhỏ nhẹ, ăn nói từ tốn nhưng là để đối phương có thời gian bày tỏ ngưỡng mộ hơn là bản chất của y, một gã cộng sản có dã tâm muốn thế giới biến động để Trung Quốc đứng giữa hưởng lợi.
Những con rối không tự biết mình là rối
Đèn Cù, ngay cái tên của tác phẩm đã nói lên sự vắt kiệt tư duy của tác giả vào quyển sách này.
Khi nói đến Đèn Cù người ta nghĩ ngay tới cái tên gốc của nó: Đèn kéo quân. Cái gốc đó phát xuất từ Tàu và người Việt sau nhiều thế kỷ đã làm theo nó một cách tự nguyện. Đèn Cù trở thành văn hóa Việt Nam, thay đổi chất liệu nhưng nội dung thì y như nguyên bản.
Nếu nhìn trên mặt bằng văn hóa thì Đèn Cù được diễn giải là hội nhập, là hòa tan và hàng chục khái niệm khác. Tuy nhiên đối với Trần Đĩnh, Đèn Cù được khai mở trong một ý niệm khác: Đảng cộng sản Việt Nam theo đuôi nhau chạy vòng tròn dưới bầu khí bị đốt lên bởi ánh nến ý thức hệ của đàn anh Trung Quốc. Họ như những con rối không tự biết mình là rối. Không những thế họ muốn mọi người phải như họ, tức là bịt tai, bịt mắt bịt cả tư duy để tin vào Trung Quốc một cách mù quáng. Sự mù quáng vì ý thức hệ sai khiến ấy trở thành bi kịch cho đất nước chỉ vì một nhóm nhỏ người lũng đoạn, thao túng mà phải chịu cảnh nồi da xáo thịt trong nhiều chục năm trời.
Trần Đĩnh không chấp nhận bị sai khiến và có chân trong cái đám đông tôn sùng Mao Trạch Đông của các lãnh đạo Việt Nam. Ông tách ra đứng riêng chấp nhận tư thế của một người ngoại cuộc, ngoại cuộc với sự tôn sùng lãnh tụ nhưng không ngoại cuộc với số phận Việt Nam:
Sau năm năm du học tôi bắt đầu thấy đuợc một điều khôn lớn nhất: hãy cảnh giác với thần tượng và bỏ thần tượng! Do đó hãy tin trước hết ở lương tri, bản chất mình, gắng là chính mình, chớ nghe sai phái.
-Trần Đĩnh
“Sau năm năm du học tôi bắt đầu thấy đuợc một điều khôn lớn nhất: hãy cảnh giác với thần tượng và bỏ thần tượng! Do đó hãy tin trước hết ở lương tri, bản chất mình, gắng là chính mình, chớ nghe sai phái. Do đó dám phê phán, dám lên tiếng và dám chịu đựng... Cái đó nhờ phong trào phái hữu - mà tôi say sưa, sung suớng chứng kiến - phủ nhận chủ nghĩa xã hội, độc quyền lãnh đạo, những mỹ tự có tính bùa phép khiến một lớp người ít ỏi bỗng trở thành thần thánh.”
Những gì mà Trần Đĩnh tự nói với mình nhiều chục năm về trước vẫn theo đuổi suốt cuộc đời ông. Xóa dấu vết thần tượng Trung Quốc không quá khó đối với ông nhưng hai thần tượng khác bao vây trí tuệ nhà báo Trần Đĩnh thật không dễ xóa chút nào.
Người thứ nhất là Hồ Chí Minh và người thứ hai là Trường Chinh.
Hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh rơi xuống trong lòng Trần Đĩnh vì tuy ông không ký vào nghị quyết 9 ủng hộ Trung Quốc nhưng trong tư cách lãnh tụ ông đã bị phe Lê Duẩn khống chế để không dám lên tiếng khiến Trần Đĩnh tỉnh ra trước sự thật này. Nghị quyết 9 chỉ là giọt nước tràn ly khi trước đó qua Phạm Văn Khoa, một người bạn của tác giả tháp tùng với Hồ Chủ tịch sang Trung Quốc về kể lại nguyên văn rằng: “Ông Cụ sang kiểm thảo với Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai!”.
Trường Chinh cũng thế, tuy là bậc thầy trong nghề báo đối với Trần Đĩnh nhưng tư cách tránh né vấn đề Cải cách ruộng đất cũng như hành xử trong đời sống đã làm sự kính trọng của ông dành cho Trường Chinh hoàn toàn phá sản.
Và rồi những diễn biến trong hậu trường chính trị của Đảng cộng sản Liên Xô và Trung Quốc đối với Việt Nam đã gây đổ vỡ hoàn toàn trong con người nhà báo Trần Đĩnh. Ông phát hiện ra rằng Mao Trạch Đông là người vận động Stalin thôi không có thái độ phủ nhận đối với Hồ Chí Minh trong cái gọi là cộng sản quốc tế. Chính Stalin đã phân công cho Trung Quốc “phụ trách” Việt Nam, mà trong ngôn ngữ công sản “phụ trách” đồng nghĩa với chỉ đạo, định hướng, kể cả ra lệnh.
Tác giả Đèn Cù viết: “Hệ lụy đã nằm lại sâu bền trong vô thức đảng viên cộng sản Việt Nam: vị trí đàn em, bên dưới, yên phận biết ơn đã thành nền móng cho một tư thế ứng xử với Trung Quốc. Xuân Trường cho biết Bác nhà mình chủ động khẳng định với Bác Mao quan hệ môi răng giữa Việt Nam và Trung Quốc.”
Sự lệ thuộc vào Trung Quốc như một sợi chỉ đỏ xuyên suốt tác phẩm Đèn Cù. Do chạy theo một cách vô thức như những hình nhân mà nhiều đời Tổng bí thư sau Trường Chinh, Trung Quốc vẫn chiếm một vị trí cao chất ngất trong quan hệ giữa hai đảng kể cả sau cuộc chiến 1979 nhuốm đầy máu do Trung Quốc gây ra.
Do cùng thời với các danh tài như Nguyễn Tư Nghiêm, Tô Hoài, Quang Dũng, Lê Đạt, Nguyễn Hữu Đang, Xuân Diệu, Phan Kế An, Ngô Tất Tố, Nguyễn Tuân, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Huy Tưởng. Tế Hanh, Xuân Tửu, Đặng Thái Mai…Trần Đĩnh có cơ hội nhìn thấy cách ứng xử của từng cá nhân trong mỗi con người của họ. Chuyện sợ hãi của những người sống trong chế độ cộng sản đã trở thành quen thuộc nhưng ám ảnh sau vụ Cải cách ruộng đất như Tô Hoài thì có lẽ đã lên tới thể loại hài hước khó ngăn tiếng thở dài. Trần Đĩnh kể lại:
“Khoảng hai trăm tù binh phi công Mỹ xếp hàng đầy hết lòng đường đi tới. Quần áo bà ba mầu xám khói nhạt. Tôi giật mình: tất cả đoàn người bị trói kia sao quá giống hệt nhau? Ở chiều cao, ở khổ người, ở dáng đi, ở nét mặt, ở tư thế và thần thái. Lầm lũi ngửng đầu nhìn thẳng vào cái không gian bao quanh đằng đằng sát khí và tiếng la ó. Thoáng rất nhanh tôi ngỡ xem một tập quần tượng đài di động được một đạo diễn tài ba điều khiển. Nhà đạo diễn đó là ý thức về giá trị tự thân. Và rất nhanh lại nghĩ ai đó đã dựng nên tập thể điêu khắc này để đối lại tượng đài Nạn nhân các trại tập trung Quốc xã.
Dân hai bên đường hò hét, đánh đấm, ném đá. Những cái đầu tù binh quay ngoắt tránh đá, tránh đấm rất nhanh. Những con mắt không một lúc nào cầu van, nao núng...
Ba chúng tôi đứng lặng trên hè. Tương quan sức mạnh quá chênh nhau tự nhiên làm se lòng. Đoàn tù binh đã đến đoạn cuối, chợt Tô Hoài nhào xuống đường, nhảy vội lên đấm một cái trượt vào mặt một người tù binh đi ở ngoài cùng.
Anh trở lại, tôi hỏi khẽ: - Đánh người ta làm gì?
Xung quanh căm thù như thế chả lẽ ba đứa mình đứng yên? - Tô Hoài che miệng tủm tỉm cười.”
Cái mỉm cười của Tô Hoài sau đó thể hiện lại một cách sắc sảo qua các cuộc đấu tố trong tiểu thuyết “Ba người khác”.
Đọc Đèn Cù cần một sự kiên nhẫn. Kiên nhẫn như người nông phu cần mẫn nhặt từng hạt giống hư bỏ ra trước khi gieo giống. Những “hạt giống” trong Đèn Cù cũng vậy, có thể làm người đọc ngơ ngác vì nó tiết lộ những sự thật nao lòng, đến nỗi khó tin, nhưng tiếc thay nó lại là sự thật.
Thất tình Hồ Chí Minh?
Mặc Lâm: Tiếp tục về tác phẩm Đèn Cù xin nhà báo, nhà văn Trần Đĩnh vui lòng cho biết tại sao tới giờ này ông mới quyết định ra mắt tác phẩm này? Động lực nào đã giúp ông ngồi xuống tiếp tục viết những giòng cuối cùng của 600 trăm trang đầy ắp tư liệu lịch sử như thế?
Trần Đĩnh: “Lê Đạt là người khuyến khích, cổ động. Tôi đã định viết rồi và cũng đã viết rồi nhưng tôi không cho Lê Đạt biết là tôi đã viết. Tôi nói là viết phải cô đơn vì anh viết trong khi người ta mời anh cả ngày ra đồn, ra trạm thì anh không làm được gì cả. Phải hết sức khiêm tốn chứ tôi nói anh đừng có phổng mũi lên. Anh muốn đi đường xa thì phải chuẩn bị cho kỹ chứ đừng ầm ĩ lên thì anh sẽ thiệt. Cứ lặng lẽ, lặng lẽ như thế này. Tôi viết từ năm 1990 cho đến bây giờ, cứ lặng lẽ. Lê Đạt thấy tôi sống và viết như thế và nói “mày không viết thì tao là người thất bại” một cách để khuyến khích nhau thôi.”
Mặc Lâm: Trong Đèn Cù có đoạn ông đã tỏ ra thất vọng và than rằng ông đã thất tình với Trường Chinh và cả Chủ tịch Hồ Chí Minh. Điều gì đã làm ông tuyệt vọng về họ đến nỗi phải dùng hai từ thất tình để mà miêu tả như vậy?
Trần Đĩnh: “Thứ nhất là ông Trường Chinh ấy nói với tôi là ông ấy hoàn toàn tán thành vấn đề sống hòa bình dân chủ. Ông ấy nói với tôi rằng đồng chí Krouchev chủ trương hòa bình thì làm sao mà chửi đồng chí ấy? Cho đến lúc ông ấy gọi tôi viết hồi ký tôi biết là ông ấy nhắm tôi vì tôi với ông ấy nhiều cái hợp nhau. Thứ nhất là ông ấy thích văn tôi. Thứ hai là ông biết lập trường của tôi là giống ông ấy chứ không theo Lê Duẩn, cứng rắn theo Trung Quốc.
Lúc bấy giờ đảng Cộng sản Việt Nam đứng trước hai ngả đường: theo Liên Xô hay theo Trung Quốc? Lúc đó Trung Quốc kéo mạnh lắm, kéo người bên cạnh với sức quyết tâm rất mạnh. Hơn nữa là ông Stalin nói là để Mao Trạch Đông phụ trách Việt Nam cho nên là đã có đường mòn thế rồi. Anh nên nhớ Nghị quyết 9 cụ Hồ không bỏ phiếu. Không bỏ phiếu tức là không tán thành, coi tư tưởng Mao Trạch Đông là tư tưởng Lenin thời đại này. Ông Lê Duẩn cũng đã xác định trong quyển sách coi tư tưởng Mao Trạch Đông là tư tưởng của Lenin trong thời đại cách mạng này. Thế mà cụ Hồ không bỏ phiếu là không tán thành rồi.
Ông Trường Chinh thì tán thành và nói rằng Trung Quốc đã đấm 9 cú đấm Thôi sơn, đánh tan chủ nghĩa Krouchev. Tôi thấy ông ấy đi ngược lại mình nên tôi có cảm giác là thất tình! Bây giờ thì mình có tuổi nên cũng hiểu là con người ta cũng có lúc lắt léo thế này thế nọ. Cuối cùng ông ấy mới kiến nghị nên mới có cái đổi mới sau này đấy chứ. Đổi mới được một tí thì ông Lê Đức Thọ lại bắt ông ấy phải về. Cụ Hồ cũng thế. Tôi thần thánh cụ Hồ vì tôi tôi nghĩ cụ sẽ nói ra sự thật. Ai ngờ đâu cụ cũng im nốt. Té ra mình là thằng bướng bỉnh cứ nói. Thất tình là như thế!”
Mặc Lâm: Sau khi Lê Duẩn bị Trung Quốc làm cho ê mặt trong chuyến đi xin Bắc Kinh cho phép hỏa tiến viện trợ từ Nga được thông cảng sang Việt Nam, phải chăng Lê Duẩn rất căm Bắc Kinh và tỏ thái độ chống Trung Quốc một cách mạnh mẽ sau này thưa ông?
Tôi tin là nếu đảng có một tí khôn ngoan thì sẽ thấy cái nguy hiểm của mình. Cứ tiếp tục cái đà này thì không ai chịu nỗi. Anh nói một đàng, anh làm một nẻo.
-Trần Đĩnh
Trần Đĩnh: “Ông ấy chưa chống đâu, nhất định chưa chống đâu. Sau này khi Cách mạng Văn hóa thì ông ấy mới giật mình. Ông bảo không cẩn thận thì lôi thôi nhưng ông ấy cũng chưa chống. Sau này Trung Quốc lớn giọng quá ông ấy bắt đầu giật mình. Anh nên nhớ lúc bấy giờ tôi có viết là Việt Nam như gót giày Achilles, luôn luôn đứng dưới bóng đa bóng đề của Trung Quốc chứ không thể đứng một mình được. Chúng ta cứ nói là chúng ta anh hùng nhưng chúng ta thua thằng hèn là thế. Không thể đứng một mình được. Ngay đến bây giờ cần các ông ấy đứng một mình tức là anh dám đi một mình hay không, nhưng lại không dám nên vẫn nhìn ngó anh Trung Quốc. Cái bóng đó lớn đến nỗi chúng ta không thể ra khỏi nó được.”
Mặc Lâm: Lãnh đạo Việt Nam hôm nay có vẻ chưa rút ra được kinh nghiệm thân thiện với Trung Quốc cách nào đi nữa thì vẫn bị họ khinh thường, dẫn dắt theo quyền lợi của họ. Ông đã từng biết nhiều về việc Trung Quốc coi thường Võ Nguyên Giáp, Lê Duẩn thậm chí với chủ tịch Hồ Chí Minh, ông lý giải thế nào về hiện tượng lãnh đạo hôm nay?
Trần Đĩnh: “Lúc đầu cái chủ nghĩa Cộng sản Quốc tế nó làm cho người ta đinh ninh rằng phải có phe và có người đỡ lưng cho mình cho nên có gì thì cái xe vẫn phải chạy và có người lái vẫn phải đi tiếp. Vì vậy khi Đặng Tiểu Bình lên ta bắt đầu hy vọng. Đấy là những điều ảo tưởng hết. Đinh ninh rằng Việt Nam đã đứng trên cái xe thì phải có đầu tàu, hoặc Liên Xô hoặc Trung Quốc rồi thì chúng ta sẽ tiến lên. Trước mắt họ có làm xấu thì chắc họ sẽ phá ra được, cũng như Đặng Tiểu Bình đánh Mao Trạch Đông để lên đấy. Tất cả đều bị chủ nghĩa Quốc tế vô sản làm cho bị lóa đi. Cứ đinh ninh là như vậy nên không thể đứng một mình được.
Quả thật Việt Nam có bao giờ đứng một mình được đâu. Ngày xưa chưa có gì thì đảng Cộng sản Pháp phụ trách. Tất cả những ông lãnh đạo không biết tiếng Nga, tiếng Trung Quốc, chỉ biết tiếng Pháp thôi. Nga giúp tiền cho mình thì lại qua Pháp. Sau này năm 1949 thì đi sang xin Trung Quốc. Mình không thể hiểu cái ràng buộc về ý thức hệ nó kinh khủng lắm. Con người ta không dám vượt khỏi cái ranh giới của ý thức hệ đã qui định được đâu. Anh phải có phe. Anh phải có đầu tàu, đầu tàu cách mạng ấy, Liên Xô lãnh đạo anh không được vi phạm không được phản bội. Anh nên nhớ ngày xưa trong đảng Cộng sản quốc tế, chi bộ của quốc tế là chi bộ của Liên Xô. Anh mà phản bội chi bộ ấy thì còn ra cái gì nữa, đúng không?
Cho nên cái tâm thức luôn luôn phục tùng, luôn luôn sợ hãi kỷ luật ấy làm cho người ta bị tù túng ghê lắm. Anh bị khống chế trước những quy luật tự anh đặt ra. Anh nên nhớ là bất kỳ một ông lãnh tụ cộng sản nào cũng đều không được phép tự lập ra đảng. Phải có Stalin bảo lập mới được lập. Anh mà tự lập anh chết ngay. Phải có sự xem xét của Stalin để nghiên cứu xem tay này được hay không. Ghê lắm. Đó là một uy lực kinh khủng.”
Mặc Lâm: Qua vụ án xét lại chống đảng, ông nhận xét thế nào về vai trò của hai ông Lê Duẩn và Lê Đức Thọ?
Trần Đĩnh: “Trước hết chính ông Duẩn xác định tư tưởng Lenin vào thời đại này. Ông Duẩn rất tán thành câu Mao Trạch Đông nói rằng “Thiên hạ đại loạn Trung Quốc được nhờ.” Có nghĩa là bạn bè mà đánh khắp thế giới, đại loạn thì chính Trung Quốc mới thoát được ra mà hưởng trong đại loạn ấy. Cái câu ấy đầy trong sách vở của Trung Quốc. Ngày xưa tôi ở Trung Quốc tôi biết. Ông Duẩn rất tâm đắc câu ấy. Bây giờ lái theo quĩ đạo ấy, chiến tranh các thứ... thì họ là người tổ chức còn ông ấy cứ theo đúng đường lối ấy. Tổ chức như vậy thì làm thế nào chống lại. Ông Thọ thì tính cách là người gian hùng làm dữ dằn lên. Bố vợ tôi do chính ông ấy giết chứ chả thấy xét lại gì cả. Có xét lại thì ông ấy cũng đã chết từ năm 46-47 rồi, Đảng viên đảng Cộng sản Trung Quốc ông ấy thịt hết. Ông Lê Giản chống tổng giám đốc công an xin khiếu nại mà không được.”
Anh hùng hay anh hèn?
Mặc Lâm: Trong gần cuối cuốn sách có một đoạn rất buồn: Ông khóc vì dân ta hèn và vì nghĩ như thế liên can tới cha mẹ nên ông bị mặc cảm là hỗn láo với tiền nhân, ông có thể chia sẻ thêm về việc này?
Trần Đĩnh: “Tôi nói dân ta hèn là vì như thế này: dân ta anh hùng nhưng sợ từ anh tổ trưởng sợ đi, sợ anh công an, sợ các thứ. Tôi cũng cảm thấy chính mình cũng hèn. Mình sợ nhiều thứ quá. Đấy là một tâm lý rất Việt. Bom đạn không sợ nhưng rất sợ quyền lực. Chính điều đó đẻ ra việc chúng ta khó có dân chủ là vì dân trí thấp. Chúng ta đinh ninh rằng chúng ta anh hùng trước mặt “kẻ thù” nhưng đụng đến chính quyền, đến nhà nước là ta im re hết. Tôi gọi hèn là vì vậy. Tại sao tôi khóc vì tôi cảm giác nhân dân như bố mẹ mình mà mình nói xúc phạm như vậy là mình có lỗi với bố mẹ mình. Bây giờ dần trưởng thành rồi mình cảm thấy không phải như vậy nữa.”
Mặc Lâm: Và nhìn lại hoàn cảnh sống hiện nay tại Việt Nam thì ông có cảm thấy sự hèn ấy có bớt đi phần nào hay không?
Trần Đĩnh: “Bây giờ bắt đầu khá lên đấy. Dân mình bắt đầu khá lên là vì sự thật đã được cởi tất. Theo tôi tất cả đều là sự thật hết. Người ta nhìn thấy ra sự thật, cái gì là nguyên nhân. Trước đây người ta thấy nguyên nhân là đế quốc nhưng dần dần thì không phải. Dần dần thì người ta thấy nguyên nhân chính là mất dân chủ nhân dân không được coi trọng. Nhân dân chỉ có tiếng là gốc, là chủ thôi chứ không hề có quyền lực gì hết. Người ta thấy ra sự thật thôi. Người ta thấy đảng đã tước quyền của người ta. Trong quyển sách, tôi có nói với anh cục trưởng cục A25 chuyên về an ninh văn hóa, tuyên truyền là đảng có yếu kém về trí tuệ. Tôi nói với các anh ấy là đảng rất yếu kém trí tuệ mà câu này không phải tôi sáng tạo ra mà chính đảng nhận như vậy. Đảng duy ý chí mà chính vì anh kém trí tuệ nên anh duy ý chí. Anh tưởng anh có thể cầm que diêm anh có thể đun nỗi ly nước, đó là anh duy ý chí hoặc là anh kém trí tuệ.
Đảng nhận, và tôi nói theo, đảng nhận nhưng đảng không bao giờ làm, đấy là bi kịch lớn nhất của đảng. Đảng nhận dân là gốc, là chủ nhưng không bao giờ coi dân là gốc, là chủ. Đảng nói là nhìn thẳng vào sự thật và nói thẳng sự thật nhưng đảng không bao giờ làm. Ai nói thẳng với đảng là bị đàn áp.
Tôi tin là nếu đảng có một tí khôn ngoan thì sẽ thấy cái nguy hiểm của mình. Cứ tiếp tục cái đà này thì không ai chịu nỗi. Anh nói một đàng, anh làm một nẻo. Anh thử tưởng tượng một show về thời của thế giới New York, Paris mà anh đưa ra người mẫu toàn bằng tre bằng nứa thì ai người ta chịu được. Ở cuộc đời, anh phải luôn luôn làm cho người ta tin. Tôi nghĩ đảng phải rút cái bài học này đấy. Nói thẳng sự thật mà ai người ta nói ra thì đàn áp luôn rồi nói rằng mày nói láo!”
Mặc Lâm: Xin cám ơn ông.
Add captionNhà văn Gabriel Garcia Marquez:
Ảnh chụp ngày 07/01/1999, tại San Vicente del
Caguan, Colombia, REUTERS
Giải Nobel Văn học đầu tiên của châu Mỹ La Tinh Gabriel Garcia Marquez qua đời chiều ngày 17/04/2014, thọ 87 tuổi. Là một nhà báo nổi tiếng, trước khi trở thành nhà văn, trong hơn 70 năm sự nghiệp cầm bút, Marquez được coi là một trong những nhà văn nổi tiếng nhất của thế kỷ XX, là người có công nhiều nhất tro
« Trăm Năm Cô Đơn », « Tình Yêu Thời Thổ Tả », « Tướng Quân Trong Mê Hồn Trận », « Ký Sự Về Một Cái Chết Được Bng việc đưa những tác phẩm bằng tiếng Tây Ban Nha ra thế giới.
áo Trước » hay « Hồi Ức Về Những Cô Gái Điếm Buồn Của Tôi » là những tác phẩm để đời của Gabriel Garcia Marquez. Chỉ riêng « Trăm Năm Cô Đơn » sáng tác năm 1967, đã được dịch ra hơn 35 thứ tiếng và đã bán ra gần 50 triệu ấn bản.
Hay tin giải thưởng Nobel Văn học 1982, Tổng thống Colombia Juan Manuel Santos tuyên bố ba ngày quốc tang. Qua mạng Twitter ông viết : « Sự ra đi của tác giả Trăm Năm Cô Đơn, người con vĩ đại nhất mọi thời đại của Colombia để lại Một ngàn năm cô đơn và đau buồn cho đất nước ». Marquez được mệnh danh là « cha đẻ của trường phái hiện thực huyền ảo ».
Không chỉ là một người có tài kể chuyện xuất chúng, Marquez chinh phục độc giả nhờ lối viết hiện thực, lồng trong bối cảnh lịch sử, chính trị, của đất nước, của châu Mỹ La Tinh, của thời cuộc. Đồng thời những tác phẩm của ông có thể đọc như một bài ngụ ngôn, trong đó cái « thực » luôn kèm cả với những truyền thuyết dân gian, những mê tín dị đoạn, với những lời nguyền, cộng thêm với một chút gì huyền bí. Marquez được tôn vinh và làm mê hoặc cả thế giới do ông là một trong những nhà cầm bút hiếm hoi thành công trong việc đưa lịch sử, văn hóa, đời sống không chỉ của một dân tộc mà là của cả châu Mỹ La Tinh đến với độc giả.
Sinh năm 1927 tại Aracataca, một ngôi làng hẻo lánh ở miền bắc Colombia, Marquez là con cả trong một gia đình có tới 11 anh em. Cha mẹ ông sớm đi nơi khác kiếm sống, Marquez chủ yếu được ông bà nuôi dưỡng. Làng Aracatata cũng như bà ngoại ông, với cá tính mạnh và một chút gì huyền bí, với hình dáng hơi giống một bà phù thủy, chính là nguồn cảm hứng để Marquez sau này tạo ra bối cảnh cho tiểu thuyết nổi tiếng nhất của ông : « Trăm Năm Cô Đơn », cho nhân vật nữ chính trong gia đình Buendia.
Nhưng bên cạnh sự nghiệp văn chương đồ sộ, Marquez còn là một nhà báo. Chính tác giả của « Ký Sự Về Một Cái Chết Được Báo Trước » từng nói : « Làm báo là cái nghề đẹp nhất trần gian ». Từ giữa thập niên 1940 Marquez đã bước vào nghề, cộng tác tờ El Espectador, rồi điều hành tạp chí Venezuela Grafica tại Caracas. Sau cuộc cách mạng Cuba, Gabriel Garcia Marquez là một người rất hâm mộ nhà lãnh đạo Fidel Castro, ông đã hợp tác với hãng thông tấn Prensa Latina tại La Habana. Một thời gian sau, Marquez rời khỏi Cuba về định cư hẳn tại Mêhicô và cũng tại đây, ông đã đóng cửa với thế giới bên ngoài trong 18 tháng liền, để hoàn tất tác phẩm để đời « Trăm Năm Cô Đơn ».
Thanh Hà
Hiện tượng trình diễn đồng ca quan họ bị nhiều chỉ trích tại Việt Nam. Kỷ lục đồng ca với sự tham gia của hơn 3.500 người, tháng 2/2012, tại hội Lim, Bắc Ninh (DR)
Năm 2013 được chọn làm năm văn hóa Pháp - Việt. Trong năm này,
sẽ có nhiều chương trình giới thiệu các hoạt động văn hóa nghệ thuật cổ
truyền Việt Nam tại Pháp. Trong bối cảnh các di sản nghệ thuật cổ được
tôn vinh, cùng lúc với các hoạt động biểu diễn nghệ thuật mang màu sắc
cố truyền có xu hướng lan rộng, có nhiều câu hỏi đặt ra là : Nghệ thuật
như thế nào xứng đáng được coi là bảo lưu di sản ? Nên quảng bá các nghệ thuật truyền thống như thế nào với bạn bè quốc tế ? Và nếu có thể cách tân, thì cách tân như thế nào ?
Từ những năm gần đây, đặc biệt sau khi một số loại hình nghệ
thuật cổ truyền Việt Nam như quan họ, nhã nhạc cung đình, cồng chiêng
Tây Nguyên… được Unesco tôn vinh làm di sản phi vật thể của nhân loại,
việc giới thiệu quảng bá với công chúng Pháp và công chúng phương Tây
nói chung ngày càng được chú ý.
Tạp chí Cộng đồng của RFI tuần này đặc biệt giới thiệu với quý vị về
văn hóa quan họ, như một ví dụ cho các cách nhìn khác nhau xung quanh
vấn đề gìn giữ, phát huy và cách tân các di sản nghệ thuật cổ truyền.
Quan họ là một di sản có ảnh hưởng sâu rộng trong xã hội Việt Nam, nhất
là tại xứ Kinh Bắc, và được Unesco thừa nhận là di sản nhân loại năm
2009, tiếp theo nhã nhạc cung đình Huế và không gian cồng chiêng Tây
Nguyên.
Trước hết, mời quý vị theo dõi phần phỏng vấn với nhà nghiên cứu dân
tộc nhạc học Trần Quang Hải. Để quảng bá tốt các môn nghệ thuật cổ
truyền Việt Nam, theo giáo sư Trần Quang Hải, cần phải giới thiệu những
gì trung thực nhất với truyền thống.
Một quyển tiếu thuyết hình sự lấy bối cảnh là Hà Nội, vừa ra
mắt độc giả Đức vào hạ tuần tháng Giêng, một cuộc triển lãm hình ảnh Hà
Nội, kéo dài trong suốt tháng Hai : Dù không hẹn, vào đúng thời điểm Tết
âm lịch, những ai quan tâm đến Việt Nam tại Đức đã có dịp tìm hiểu thêm
về Hà Nội, và nhất là về cuộc sống thường nhật hiện nay tại thủ đô Việt
Nam, thông qua hai chứng nhân người Đức, với nhiều kinh nghiệm sống và
nghiên cứu về Việt Nam.
Nếu việc tái hiện quang cảnh Hà Nội bằng hình ảnh là điều bình
thường, thì việc giới thiệu thành phố này thông qua một tiểu thuyết hình
sự (hay trinh thám) là một cố gắng rất mới lạ. Đó là điều mà chị Nora
Luttmer, một nhà văn kiêm nhà báo hiện cư ngụ tại thành phố Hamburg
(miền bắc Đức) vừa thực hiện.
Trong tiểu thuyết mang tựa đề Schwarze Schiffe (Những chiếc thuyền
đen), chị đã chọn thủ đô Việt Nam làm bối cảnh một câu chuyện hình sự
với nào là án mạng, nào là điều tra, với nhiều tình tiết hồi hộp và dữ
dội, mà bất kỳ một tiểu thuyết hình sự nào cũng có. Điểm thu hút độc giả
chính là những mô tả rất thực, về các địa điểm, nơi chốn, các sinh hoạt
của Hà Nội… đã được tác giả tuyển chọn để đưa vào trong câu chuyện.
Nội dung tiểu thuyết « Những chiếc thuyền đen » là như thế nào ? Theo
lời tác giả, câu chuyện xảy ra ở Hà Nội vào thời điểm tháng Năm, lúc
thành phố rất oi bức. Nhân vật chính của tiểu thuyết là một « thanh tra »
cảnh sát 45 tuổi, tên là Phạm Văn Lý. Ông rất muốn lên miền núi nghỉ
mát để tránh không khí ngột ngạt của thành phố, thế nhưng ý định đó đã
không thành khi người ta phát hiện ra xác một phụ nữ trẻ bị sát hại dã
man trong khuôn viên của Phủ Tây Hồ.
Hình xăm trên cơ thể nạn nhân, vết cháy của tàn thuốc lá trên người,
và hiện trường nơi xẩy ra vụ giết người cho thấy đó là một cô gái mại
dâm. Các yếu tố đầu tiên của cuộc điều tra đã hướng ông Lý đến giới
thuyền chài trên sông Hồng, và đặc biệt là một nhân vật tên Hải Âu, có
quan hệ rất lớn.
Sau khi đến lượt một cô gái khác bị mất tích, Thanh tra Lý biết rằng
ông phải chạy đua với thời gian, để tim ra cô gái. Vấn đề là anh phải
chiến đấu với một tên tội phạm rất nguy hiểm, trong một môi trường bị
tham nhũng nặng nề.
Tiểu thuyết của Nora Luttmer, viết bằng tiếng Đức, đã chính thức ra
mắt độc giả ngày 21/01/2013. Bản thân tác giả không phải là một người xa
lạ gì với Việt Nam. Sinh năm 1973, cư ngụ tại Hamburg, Nora Luttmer đã
nghiên cứu về lịch sử, chính trị và văn hóa Đông Nam Á tại trường đại
học Đức Passau, cũng như ở Hà Nội và Paris, trước khi theo học ngành báo
chí tại Mainz.
Là người nói tiếng Việt khá thông thạo, ngay từ giữa những năm 1990,
chị thường xuyên qua lại Việt Nam, để nghiên cứu thêm về Kiến trúc chùa
chiền Việt Nam. Vào năm 2010, Nora đã công tác với nhiếp ảnh gia Đức
André Lützen, tham gia viết lời bình cho tập ảnh mang tựa đề tiếng Anh
Public Private Hanoi (“Hà Nội riêng tư nhưng công khai”), giới thiệu hơn
70 bức ảnh màu về Hà Nội.
Nora Luttmer :Hà Nội là một thành phố mà tôi rất quý
Nhân dịp tiểu thuyết Những chiếc thuyền đen ra mắt độc giả, chị Nora
Luttmer đã cố gắng dành cho ban Việt ngữ RFI một bài phỏng vấn ngắn băng
tiếng Việt, để giải thích lý do vì sao mà chị lại lấy Hà Nội làm bối
cảnh của một câu chuyện hình sự. Nora Luttmer : “Tôi chọn Hà Nội vì đây là một thành
phố mà tôi rất quý. Ở châu Âu, người ta vẫn còn hiểu biết rất ít về Việt
Nam, ở Đức còn ít hơn nhiều so với ở Pháp. Có nhiều người Đức rất quan
tâm đến Việt Nam và hay hỏi thăm tôi về Việt Nam. Hiện nay người ta cũng
bắt đầu đi du lịch qua Việt Nam nhiều hơn.
Hiện nay, ở Đức nói riêng, và ở châu Âu nói chung, không có nhiều
cuốn sách truyện về Việt Nam hiện đại viết bằng tiếng châu Âu. Ý tưởng
viết câu chuyện bắt đầu là như thế. RFI : Tại sao chị lại chọn thể loại tiểu thuyết hình sự ? Nora Luttmer : Lý do đầu tiên là tôi thích đọc tiểu
thuyết hình sự. Tôi thấy đây là một thể loại tốt cho phép ta kể lại câu
chuyện của một thành phố.
Lý do thứ hai là trong thời gian qua tôi đã được nghe nhiều câu
chuyện về Việt Nam và Hà Nội. Vào năm 1995, tôi đã đến Hà Nội lần đầu
tiên, rồi sau đó, năm nào cũng quay lại. Trong thời gian đó, tôi đã thu
thập được rất nhiều câu chuyện.
Tôi có nhiều người quen ở Hà Nội, trong đó cũng có bạn rất thân,
nhưng dù sao thì tôi vẫn là người nước ngoài. Điều này có một lợi thế :
Người tại chỗ sẵn sàng nói cho ta biết rất nhiều chuyện mà họ không kể
với người khác. Trong số này, có những câu chuyện tội phạm, những câu
chuyện về nỗi sợ hãi.
Tôi luôn luôn muốn kể lại những câu chuyện mình nghe được, nhưng dĩ
nhiên là các nhân vật và tình tiết đã thay đổi trong cuốn sách của tôi.
Đó hoàn toàn là những câu chuyện hư cấu.
RFI : Phản ứng của độc giả tại Đức về quyển sách như thế nào ? Nora Luttmer : Cuốn sách mới ra mắt độc giả hai tuần
trước đây, nhưng tôi thấy phản ứng đầu tiên là rất tốt. Vào cuối tuần
này, quyển tiểu thuyết này sẽ được giới thiệu nhân một sinh hoạt đọc
sách ở Hamburg, cũng với phần trình bày hình ảnh minh họa của André
Lützen. RFI : Ở Việt Nam có phản ứng gì chưa ? Nora Luttmer : Ở Việt Nam thì có một số báo tiếng Anh, như Word Hanoi và Vietnam Net đã đề cập đến cuốn sách này. RFI : Chị có nghĩ đến việc chuyển thể câu chuyện qua tiếng Việt hay không ? Nora Luttmer : Tôi có nhận được một yêu cầu từ Việt
Nam. nhưng mà đề nghị đó chưa rõ ràng lắm. Việc cho chuyển thể tiếu
thuyết qua tiếng Việt là nhiệm vụ của nhà xuất bản.
Triển lãm ảnh về Hà Nội tại Pfordzheim
Như chị Nora Luttmer đã nói ở trên, tối 15/02/2013 chị sẽ tham gia
một sinh hoạt đọc sách tại Hambourg để giới thiệu tiểu thuyết Những
Chiếc Thuyền đen. Độc giả khi ấy sẽ có dịp vừa nghe đọc truyện về Hà
Nội, vừa được tận mắt xem bối cảnh của câu chuyện qua các bức ảnh minh
họa của André Lützen.
Riêng đối với nhiếp ảnh gia Lutzen, từ ngày 24/01/2013 vừa qua đến
ngày 02/03/2013, một cuộc triển lãm các bức ảnh của anh về Hà Nội mở cửa
đón công chúng tại Nhà văn hóa Osterfeld thành phố Pfordzheim, miền Tây
Nam nước Đức.
Trả lời câu hỏi của RFI, nhiếp ảnh gia Lutzen cho biết rằng do không
gian chật hẹp, cuộc triển lãm chỉ có thể trưng bày một phần trong số các
bức ảnh mà anh đã công bố trong tập ảnh Public Private Hanoi, ra đời
cách nay hai năm. Cho dù vậy, báo chí và truyền hình địa phương cũng đã
thực hiện một số chương trình về cuộc triển lãm đó.
Riêng về tập sách ảnh về Hà Nội mà anh đã thực hiện chung với chị
Nora Luttmer, theo André Lutzen, công trình đã được giới phê bình cũng
như độc giả đón nhận rất tích cực. Quyển sách đã nhanh chóng được bán
hết, và hai năm sau khi ra mắt, nó đã nhận được rất nhiều lời khen trên
báo viết cũng như báo mạng. Và trong năm 2012 vừa qua, quyển Hanoi
Public Private đã được đề cử tranh giải thưởng của giới xuất bản Đức.
"Đẩu ngọc xích bố" có nghĩ là một đấu lúa, một thước vải.
Ngày xưa Cao Tổ có hai đứa con Hán Văn Đế và Hoài Nam Vương. Hoài Nam Vương không tuân theo phép nước nên bị Hán Văn Đế đày sang đất Thục. Hoài Nam Vương uất ức nhịn đói mà chết. Người đương thời mới đặt câu ca dao: "Nhất xích bố thương khả phùng, nhất đấu tất thương khả thung, huynh đệ nhi nhân bất tương dung", có nghĩa là một tấc vải cũng có thể may áo mặc chung, một đấu gạo cũng có thể chia nhau ăn chung, hai
anh em sao lại không dung tha nhau được?.
Điển tích Tơ Hồng do chuyện ngày xưa, bên Tàu có một người tên là Vi Cố, một bữa đi chơi trăng, bắt gặp một ông già đang ngồi xe các sợi dây đỏ. Hỏi ra thì ông ta nói ông là
Nguyệt Lão, chuyên coi việc xe duyên vợ chồng nhân gian. Ông nói
"ta buộc dây tơ này vào chân người nào thì dù thế nào cũng phải lấy nhau". Vi Cố bèn hỏi sau này ông sẽ lấy ai, Nguyệt lão nói Vi Cố sẽ lấy một cô gái hàng rau rách rưới bẩn thỉụ Vi
Cố giận lắm toan giết cô gái, nhưng rồi cuối cùng hai người
cũng lấy nhaụ
Người
Việt Nam tin tình duyên do tiền định trước,
cho nên thành vợ thành chồng rồi thì phải tạơn ông Nguyệt Lão và cầu mong dây tơ hồng được cột chặt bền lâu